Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2016

PHƯƠNG PHÁP XOA BÓP, MATXA KẾT HỢP VỚI DỤNG CỤ DIỆN CHẨN (PHẦN 1)

I – THỦ THUẬT XOA BÓP
Thủ thuật xoa bóp tương đối nhiều, xin giới thiệu một số thủ thuật thường dùng: xát, xoa, day, ấn, miết, hợp, véo, bấm, đấm, điểm, lặn, phát. vờn, rung, ve, vận động.
Yêu cầu thủ thuật: thủ thuật phải dịu đàng, song có tác dụng thấm sâu vào da thịt, làm được lâu và có sức.
Tác dụng bổ tả của thủ thuật: thường làm nhẹ, chậm rãi, thuận đường kinh có tác dụng bổ, làm nặng, nhanh, ngược đường kinh có tác dụng tả.
1. Xát:
Dùng gốc gan bàn tay, mô ngón tay út hoặc mô ngón tay cái xát lên da, theo hướng thẳng (đi lên, đi xuống hoặc sang phải, sang trái).
Tay của thầy thuốc di chuyển trên da người bệnh.
Cũng có khi phải dùng dầu, bột tan (tale) để làm trơn da.
Toàn thân chỗ nào cũng xát được.
Tác dụng: thông kinh lạc, dẻo gân cốt, lý khí làm hết đau, làm hết sưng, giảm đau.

2. Xoa:
Dùng vân ngón tay, gốc bàn tay hoặc mô ngón tay út ngón tay cái xoa tròn trên da chỗ đau. Tay của thầy thuốc di chuyển trên da người bệnh. Là thủ thuật mềm mại, thường dùng ở bụng hoặc nơi có sưng đỏ.
Tác dụng: lý khí hòa trung (tăng cường tiêu hóa) thông khí huyết, làm hết sưng, giảm đau.
3. Day:
Dùng gốc bàn tay, mô ngón tay út, mô ngón tay cái hơi dùng sức ấn xuống da người bệnh và di chuyểnn theo đường tròn. Tay của thầy thuốc và da của người bệnh dính với nhau, da người bệnh di động theo tay thầy thuốc. Thường làm chậm còn mức độ mạnh hay nhẹ, rộng hay hẹp tuy tình bệnh lý, là thủ thuật mềm mại hay làm ở nơi đau, nơi nhiều cơ.
Tác dụng: làm giảm sưng, hết đau, khu phong, thanh nhiệt, giúp tiêu hóa.
Hai thủ thuật day và xoa là hai thủ thuật chính trong việc chữa sưng tấy.
4. Ấn:
Dùng ngón, gốc gan bàn tay, mô ngón tay cái hoặc mô ngón tay út ấn vào một nơi nào hoặc vào huyệt nào.
Tác dụng: sức qua da vào thịt, xương hoặc vào huyệt.
5. Miết:
Dùng vân ngón tay cái miết chặt vào da người bệnh rồi miết theo hướng lên hoặc xuống hoặc sang phải sang trái. Tay của thầy thuốc di động và kéo căng da của người bệnh. Hay dùng ở đầu, bụng.
Tác dụng: khai khiếu, trấn tĩnh, bình can giáng hỏa, làm sáng mắt, trẻ em ăn không tiêu (miết từ trung quản xuống đến rốn).
6. Phân: 
Dùng vân các ngón tay hoặc mô ngón tay út của hai ttay, từ cùng một chỗ tẽ ra hai bên theo hướng ngược nhau.
a) Có thể chạy trên da người bệnh khi hai tay phân ra và đi cách nhau xa.
b) Có thể dính vào da người bệnh, da người bệnh bị keo năng ra hơi hướng ngược nhau khi hai tay phân ra và cách nhau không xa lắm.
Dùng ở đầu mặt, ngực, lưng
Tác dụng: hành khí, tán huyết, bình can, giáng hỏa.

7. Hợp:
Dùng vân cán ngón tay hoặc mô ngón tay út của hai tay từ hai chỗ khác nhau đi ngược chiều và cùng đến một chỗ. Tay của thầy thuốc như ở thủ thuật phân.
Dùng ở đầu, bụng, lưng.
Tác dụng: bình can giáng hỏa, trợ chính khi, giúp tiêu hoa.
8. Véo:
Dùng ngón tay cái, ngón tay trỏ hoặc những đốt thứ 2 của ngón cái với đốt thứ 3 của ngón tay trỏ kẹp và kéo da lên, hai tay làm liên tiếp sao cho da của người bệnh luôn luôn như bị cuộn ở giữa các ngón tay của thầy thuốc. Hay dùng ở lưng, trán.
Tác dụng: bình can giáng hỏa, thanh nhiệt, khu phong tán hàn, nâng cao chính khí.
9. Âm:
Trước đây người ta dùng móng tay cái bấm vào huyệt nhân trung, thập tuyên, thừa tương để điều trị trong các trường hợp ngất choáng. Có tác dụng làm tỉnh người.
Hiện nay người ta cắt ngắn móng ngón tay cái và ngón trỏ để bấm  vào các huyệt, a thị huyệt và những nơi cơ co cứng để điều trị một số bệnh cấp tính và mãn tính.
Chú ý: khi bấm nốt 1 và 2 vuông góc với nhau bấm từ từ, tăng dần đến khi bệnh nhân cảm thấy tức nặng thì hãm lại khoảng 1 phút dùng.
Nếu tay ấn yếu thì dùng góc gan bàn tay kia ấn thêm vào và không làm quá sức chịu đựng của người bệnh.
Khi bấm nút không được day vì nghiền nát tổ chức bầm tím và đau.
10. Điềm
Dùng đầu ngón tay cái, đốt thứ 2 ngón trỏ, giữa hoặc khuỷu tay, dùng sức ấn thẳng góc vào huyệt hoặc vị trí nhất định. Đó là thủ thuật tả mạnh nhất của xoa bóp, cần căn cứ vào bệnh tình hư thực của người bệnh để dùng cho thỏa đáng.
Thường dùng ở mông, lưng, thắt lưng, tứ chi.
Tác dụng: khai thông những chở bê tắc, tán hàn giảm đau.
11. Bóp
Có thể dùng hai bàn tay hoặc ngón tay cái và ngón trỏ, ngón nhẫn hoặc ngón cái và bốn ngón tay kia hoặc hai đầu ngón tay cái và trỏ (khi bóp vào huyệt). Lúc đó vừa bóp vừa hơi kép thịt lên. Nói chung không lên để thịt và gân trượt dưới tay, vì làm như vậy gây đau. Nên dùng đốt thứ 3 các ngón tay để bóp, không lên dùng đầu ngón tay để bóp vào cơ vì làm như vậy gây đau. Thường dùng ở cổ, gáy, vai, nách, lưng trên, mông và tứ chi. Sức bóp mạnh hay nhẹ tùy đối tượng.
12. Đấm
Nắm tay lại dùng ô mô út đấm vào chỗ bị bệnh, thường dùng ở nơi nhiều cơ như lưng, mông, đùi.
Tác dụng: thông khí huyết, tán hàn, khu phong.
13. Chặt
Duỗi thẳng bàn tay, dùng ô mô út chặt liên tiếp vào chỗ bị bệnh. Thường dùng ở nơi nhiều cơ như lưng, mông, đùi.
Nếu xoa bóp ở đâu thì xòe các ngón tay, dùng ngón út chặt vào đầu bệnh nhân. Khi chặt ngón út sẽ đập vào ngón đeo nhẫn, ngón đeo nhẫn sẽ đạp vào ngón giữa, ngón giữa sẽ đập vào ngón trỏ phát ra tiếng kêu.
Tác dụng: thông khí huyết, tán hàn, khu phong.
14. Lăn:
Dùng mu bàn tay và ô mô út hoặc dùng các khớp giữa bàn tay và ngón hoặc dùng các khớp ngón tay vận động nhẹ nhàng khớp cổ tay với một sức ép nhất định lần lượt lăn trên da thịt bệnh nhân, thường lăn ở nhiều nơi và nơi đau.
Tác dụng: khu phong, tán hàn, thông kinh lạc làm lưu thông khí huyết do đó giảm đau, làm khớp vận động được dễ dàng.
Thủ thuật này có tác dụng thấm sâu vào da thịt, diện kích thích lớn, nên hay được dùng trong tất cả các trường hợp xoa bóp.
15. Phát
Bàn tay hơi khum khum, giữa lòng bàn tay lõm, các ngón tay khít lại với nhau phát từ nhẹ đến nặng vào chỗ bị bệnh. Khi phát da đỏ lên do áp lực trong lòng bàn tay thay đổi gây nên, chứ không có các vết lằn ngón tay như khi để thẳng ngón tay như để thắng ngón tay phát. Dùng ở vai, thắt lưng, tứ chi, bụng.
Tác dụng: thông kinh lạc, mềm cơ, giảm sức căng.
16. Rung
Người bệnh ngồi thẳng, hai tay buông thõng hơi nghiêng người về phía bên kia, thầy thuốc đứng hai cổ tay nắm cổ tay người bệnh kéo hơi căng, hơi dùng sức rung từ nhẹ đến nặng, chuyển động như làn sóng từ tay lên vai. Vừa rung vừa đưa tay bệnh nhân lên xuống từ từ và cuối cùng giật nhẹ một cái.
Dùng ở tay là chính
17. Vê
Dùng ngón tay trỏ và ngón cái vê theo hướng thẳng thường dùng ở ngón tay, ngón chân và các khớp nhỏ.
Tác dụng: làm trơn khớp, thông khí huyết:
18. Vờn
Hai bàn tay hơi cong bao lấy một vị trí, rồi chuyển động ngược chiều kéo theo cả da thịt người bệnh chỗ đó chuyển động theo. Dùng sức phải nhẹ nhàng vờn từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên.
Dùng ở tay chân, vai, lưng, sườn.
Tác dụng: bình can, giải uất, thông kinh lạc, điều hòa khí huyết.
19. Vận động:
Tùy theo từng khớp mà có cách vận động khớp khác nhau.
Ví dụ: khớp vai: cột 2 tay cố định phía trên khớp một tay cầm cánh tay vận động khớp theo phạm vi hoạt động bình thường của khớp. Nếu khớp vận động bị hạn chế cần kéo giãn khớp trong khi vận động và phải hết sức chú ý phạm vi hoạt động của khớp lúc đó, làm từ từ tăng dần tránh làm quá mạnh gây quá đau cho người bệnh.
Các khớp đốt sống cổ: một tay để ở cằm một tay, một tay để ở chẩm, hai tay vận động ngược chiều nhau một cách nhẹ nhàng sau đó đột nhiên làm mạnh một cái nghe tiếng kêu khục.
Các khớp cột sống lưng: Bệnh nhân nằm nghiêng, chân dưới duỗi thẳng, chân trên co, tay phía dưới để trước mặt, tay phía trên để quặt sau lưng. Một cánh tay của thầy thuốc để ở mông, một cẳng tay đặt ở rãnh đen trước ngực, hai tay vận động ngược chiều nhau một cách nhẹ nhàng, sau đó đột nhiên làm mạnh một cái sẽ phát ra một tiếng kêu khục.
Tác dụng: thông lý mở khớp, tán nhiệt, làm tăng sức hoạt động của các chi.
Mỗi lần xoa bóp ta chỉ cần dùng một số thủ thuật mà thôi. Hay dùng nhất có xoa, rung, đấm, bóp, ấn, vờn, lăn, vận động.



Thông tin DỤNG CỤ DIỆN CHẨN liên quan:



DỤNG CỤ DIỆN CHẨN



Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2016

Trị Bệnh Đau Mỏi Cổ Vai Gáy Lưng Sườn

Trị Bệnh Đau Mỏi Cổ Vai Gáy Lưng Sườn

(Chuyện tại chùa Cáng – Hà Nam)

Sáng 22/04/2015, Kì Nam cùng với clb Diện chẩn Cao Bằng – Hà Nội về với các phật tử chùa Cáng (x. Tràng An, h. Bình Lục, Hà Nam).

Ngồi trước mặt là một lão nông ngoài 70t.
- Bác đau gì ạ ?
- Tôi đau vai này, cổ mỏi này, lưng cũng đau.
- Bác còn đau gì nữa không ạ ?
- Hai bên sườn mỏi lắm chú ạ.

Kì Nam lấy que dò ra. Dùng thân que dò lăn trên phần lưng các ngón tay của lão nông khoảng 1 phút.
-       Bác thấy ngón nào đau nhiều nhất ạ ?
-       Ngón trỏ, vâng ngón trỏ.

Kì Nam cứ ngón trỏ của lão nông, vừa lăn vừa miết nhẹ từ khớp 1 đến khớp 2 (tính từ đầu ngón)  theo đồ hình đồng ứng ngón tay # thân người.  Khớp 1# cổ gáy, khớp 2 # xương cùng.
Tác động như thế chừng 2 phút, Kì Nam hỏi:
-       Bác thấy thế nào rồi ạ ?
-       Dễ chịu hơn.
-       Bác đứng dậy, vươn vai, lắc hông xem.
-       Nhẹ nhõm, dễ chịu lắm chú ạ.



Sau đó Kì Nam hướng đẫn cho lão nông về nhà tự làm mỗi khi tái phát. Dùng cây bút bi thay que dò cũng được.

Thông tin DỤNG CỤ DIỆN CHẨN liên quan:




Trị bệnh Viêm Tai Giữa Có Mủ bằng Diện Chẩn Bùi Quốc Châu

Trị bệnh Viêm Tai Giữa Có Mủ bằng Diện Chẩn Bùi Quốc Châu

CHỮA VIÊM TAI GIỮA CÓ MỦ BẰNG PHÁC ĐỒ 6 VÙNG PHẢN CHIẾU HỆ BẠCH HUYẾT

Trời đông Hà Nội rét, nhiều người bị viêm tai. CLB DC Hà Nội xin giới thiệu một kinh nghiệm chữa bệnh này của chị Trần Thị Thu Thủy, học viên khóa 112 của Thầy Bùi Quốc Châu.


Thầy (TS. Bùi Quốc Châu) dạy con 6 vùng phản chiếu hệ bạch huyết. Công dụng của nó nhiều lắm, nhiều đến nỗi con không tài nào nhớ hết được. Nhưng may quá, ít nhất con cũng còn nhớ là nó tiêu viêm tiêu độc rất mạnh, để ngay hôm sau có dịp đem ra sử dụng và cũng là kiểm tra xem thực tế có đúng như vậy không…
Đó là trường hợp đứa cháu họ của con (16 tuổi) mới ở quê vào, bị viêm tai giữa, đau và chảy mủ liên tục, lúc nào cũng phải bịt bông gòn nơi lỗ tai, chút xíu lại phải thay bông vì mủ thấm ướt hết. Uống thuốc Tây cả tuần lễ mà chỉ đỡ đau (nhờ thuốc giảm đau) chứ mủ vẫn chảy không bớt.


Viêm tai giữa có mủ
Nhớ lời thầy dạy: 6 vùng chiến thuật tiêu viêm tiêu độc rất mạnh, con áp dụng ngay, đánh mỗi vùng 40 lần. Con dò thêm sinh huyệt tai ở trán (vùng huyệt 197) thì tìm được một điểm đau ở ngay đúng huyệt 197, cùng bên với lỗ tai đau. Day ấn sinh huyệt đó trong 30 tiếng đếm, sau đó đánh thêm Bộ huyệt tiêu viêm, tiêu độc: 41, 143, 127, 19, 37, 38 (cũng dùng thủ pháp day ấn). Cuối cùng, dán Salonpas lên các huyệt vừa ấn. Xong!

Đánh buổi tối thì sáng hôm sau cháu báo 10 phần đã đỡ được 9 phần. Trời, con quá ngạc nhiên, sao lẹ vậy cà? Con làm thêm lần nữa, đến tối cháu lại báo: nó hết chảy mủ luôn rồi! Quả là thần kỳ vì con biết bệnh này đối với Tây y việc chữa trị không phải là đơn giản, mà Diện chẩn mình làm vỏn vẻn chỉ có 2 lần, mỗi lần chưa tới 5 phút.

Con nghĩ, với 6 vùng chiến thuật, Thầy thực sự đã trao cho chúng con một bảo bối. Cảm ơn Thầy rất nhiều. Các bạn ơi, bảo bối Thầy trao rồi, chúng ta hãy mạnh dạn sử dụng, nếu không sẽ uổng phí vô cùng (còn tới hơn 60 công dụng nữa lận). Bảo bối chỉ thực sự là bảo bối khi chúng ta biết dùng bảo bối.

Trần Thị Thu Thủy
Khóa 112
542/22 Nguyễn Kiệm, P4, QPN 


Thông tin DỤNG CỤ DIỆN CHẨN liên quan: